TƯ VẤN
Sở Hữu Trí Tuệ

Nhận tư vấn về lĩnh vực sở hữu trí tuệ bằng cách điền các thông tin phía dưới

Tài sản trí tuệ nói chung, quyền sở hữu trí tuệ là yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp trong thời đại 4.0. Do đó, việc đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ là biện pháp pháp lý cần thiết để bảo đảm quyền sở hữu và khai thác các đối tượng sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu để có lợi thế cạnh tranh về sản phẩm, dịch vụ và khẳng định thương hiệu, đẳng cấp của doanh nghiệp.

Sở Hữu Trí Tuệ 1
thuong mai dien tu

Thực tế các thương hiệu lớn như Coca Cola, Pepsico, IBM, Vinamilk, BaoViet… đều trú trọng trong việc đăng ký nhãn hiệu của của mình và hiện các thương hiệu này là tài sản của doanh nghiệp có giá trị hàng tỷ USD.

Để hỗ trợ khách hàng bảo vệ các tài sản này, LNP chúng tôi đang tập trung mọi nguồn lực để xây dựng và cung cấp cho khách hàng các gói dịch vụ khép kín trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, từ đăng ký bảo hộ cho đến khai thác thương mại và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ. Các dịch vụ tư vấn về sở hữu trí tuệ chúng tôi tập trung phục vụ bao gồm:

1. Tư vấn pháp luật về sở hữu trí tuệ
2. Tư vấn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
3. Tư vấn khai thác, định giá và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ

Các dịch vụ tư vấn sở hữu trí tuệ

BẢO HỘ NHÃN HIỆU

Nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định trên cơ sở nhãn hiệu đó đã được cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền.

KIỂU DÁNG CÔNG NGHIỆP

Nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định trên cơ sở nhãn hiệu đó đã được cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền.

BẢO HỘ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ

Nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định trên cơ sở nhãn hiệu đó đã được cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền.

BẢO HỘ SÁNG CHẾ,
GIẢI PHÁP HỮU ÍCH

Nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định trên cơ sở nhãn hiệu đó đã được cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền.

BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ VÀ CÁC QUYỀN LIÊN QUAN

Nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định trên cơ sở nhãn hiệu đó đã được cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền.

CHUYỂN GIAO QUYỀN SHTT
NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

Nhãn hiệu là một trong những đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu được xác định trên cơ sở nhãn hiệu đó đã được cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền.

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

Đó là quyền kiểm soát việc sử dụng một sáng chế trong một số năm nhất định. Trong đó thực tế, nó chính là việc mặc cả giữa nhà sáng chế và Nhà nước; nhà sáng chế có thể nhận được quyền này với điều kiện đánh đổi việc phải cung cấp thông tin bằng cách bộc lộ đầu đủ sáng chế. các thông tin sáng chế được bộc lộ này được Cơ quan Sở hữu trí tuệ quốc gia công bố công khai và những người khác có thể tiếp cận dễ dàng tránh được các trường hợp phát triển sản phẩm hay nghiên cứu trùng lặp lãng phí. Bằng sáng chế là một tài sản. Giống như các hàng hóa kinh doanh khác, nó có thể được mua, được bán, được cho thuê hay chuyển giao lixăng.

Câu trả lời là không.

Nói chung, để có thể được cấp bằng sáng chế, đối tượng phải là chất, cơ cấu hoặc phương pháp sản xuất một chất, một sản phẩm hay thiết bị hoặc quy trình sản xuất công nghiệp mà không phải là các sáng tạo nghệ thuật, phương pháp toán học, kế hoạch kinh doanh hoặc chỉ là các hoạt động tinh thần thuần túy khác.

Ngoài ra còn có một số đối tượng bị loại trừ không được cấp bằng sáng chế.

Thứ nhất, sáng chế phải mới. Điều đó có nghĩa là trước ngày nộp đơn xin cấp bằng sáng chế, sáng chế này phải chưa bị bộc lộ dưới bất kỳ hình thức nào. Ví dụ như nói hoặc mô tả, sản xuất, bán hay thử nghiệm công khai.

Thứ hai, sáng chế phải không hiển nhiên đối với người có kỹ năng trong lĩnh vực công nghệ cụ thể hay nói cách khác, sáng chế phải là kết quả của lao động sáng tạo, là điều bất ngờ đối với người đó.

Thứ nhất, được độc quyền sử dụng sáng chế hoặc cho phép người khác sử dụng theo các điều khoản đã thỏa thuận. Quyền này không phải là quyền sản xuất và bán sản phẩm nếu có các quy định pháp luật khác, chẳng hạn như phải thửu nghiệm tính an toàn dược phẩm trước khi cấp phép đưa dược phẩm ra thị trường.

Thứ hai, quyền tiến hành các biện pháp pháp lý chống lại những người có thể đã vi phạm sáng chế và yêu cầu bồi thường. Việc bồi thường này có thể bao gồm bồi thường thiệt hại vật chất, hoặc chuyển nhượng lại và tiêu hủy những hàng hóa vi phạm.

Bằng sáng chế là cơ sở để ngăn chặn những người có khả năng xâm phạm.

Bước đầu tiên là nộp đơn trong đó cần bộc lộ hoàn toàn sáng chế cho Cơ quan Sở hữu trí tuệ quóc gia của bạn. Đơn này phải bao gồm tất cả mọi thông tin cần thiết để thực hiện sáng chế bởi vì thông thường sau đó khó đưa thêm các thông tin bổ sung. Bạn cũng cần nộp một hoặc một vài yêu cầu bảo hộ mà các yêu cầu đó xã định các đặc điểm kỹ thuận chủ yếu của sáng chế của bạn và cần thiết để phân biệt sáng chế với những gì được biết đến trước đó. Tiếp theo, Cơ quan Sở hữu trí tuệ quốc gia của bạn sẽ tiến hành tra cứu thông tin để xác định sáng chế có mới và có tính sáng tạo hay không. Sau đó sẽ tiến hành xét nghiệm toàn diện để xác định đơn có đáp ứng các nhu cầu pháp lý hay không. Nếu có những phản đối, thì thường người nộp đơn phải giải quyết được những phản đối đó trước khi được cấp bằng sáng chế.

Li-xăng là việc chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ (người cấp li-xăng) cho phép người khác (người nhận li-xăng) sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ của mình, trong khi vẫn tiếp tục giữ quyền sở hữu các quyền đó.

Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;

Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;

Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

Trong ngôn ngữ hàng ngày, “kiểu dáng công nghiệp” được hiểu là những hình dáng bên ngoài và đề cập đến chức năng cơ bản của một sản phẩm.

Ví dụ: Một chiếc ghế đáp ứng là “kiểu dáng công nghiệp” và được bảo hộ khi thỏa mãn các yếu tố sau: tính mới, tính sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp. Khả năng áp dụng công nghiệp là đặc tính quan trọng nhất vì kiểu dáng phải đáp ứng được nhu cầu của thị trường về các chức năng cơ bản, được dùng làm mẫu để sản xuất hàng loạt theo phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

Theo tinh thần của luật sở hữu trí tuệ thì kiểu dáng công nghiệp chỉ đề cập đến khía cạnh thẩm mỹ hoặc hình dáng bên ngoài của sản phẩm. Mặc dù hình dáng bên ngoài đó có thể bao gồm cả những đặc điểm kỹ thuật hoặc chức năng, thì kiểu dáng công nghiệp – với tư cách là đối tượng sở hữu trí tuệ chỉ đề cập đến đặc điểm mỹ thuật của sản phẩm hoàn chỉnh, nó khác với đặc điểm kỹ thuật hay chức năng bất kỳ.

Tóm lại, kiểu dáng công nghiệp gồm các đặc điểm ba chiều, như hình dáng sản phẩm, các đặc điểm hai chiều khác như các trang trí, họa tiết, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp của các yếu tố trên.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, sửa đổi, bổ sung 2009 (Luật SHTT), Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu.

Hiểu rộng ra, quyền tác giả bao gồm những quyền cụ thể mà pháp luật trao cho tác giả hay chủ sở hữu của một tác phẩm về việc đặt tên tác phẩm, đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm, được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Sao chép, điều chỉnh hay truyền tải, phổ biến tác phẩm đến với công chúng bằng và việc cho phép người khác tham gia vào quá trình khai thác tác phẩm.

Quyền tác giả được ghi nhận cho các tác phẩm: Văn học, văn học dân gian, khoa học, sách giáo khoa, bài giảng, bài phát biểu, tác phẩm báo chí, âm nhạc, sân khấu, nghệ thuật dân gian, điện ảnh nhiếp ảnh, kiến trúc, tạo hình, mỹ thuật ứng dụng, bản đồ họa, sơ đồ, bản vẽ công trình, chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu… và tác phẩm phái sinh (nếu không gây phương hại đến quyền tác giả của tác phẩm gốc).

Các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả bao gồm:

Tin tức thời sự thuần túy đưa tin;

Văn bản quy phạm pháp luật;

Văn bản hành chính;

Các văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó;

Quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

Điều 63 Luật SHTT quy định kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

Có tính mới:

Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên.Hai kiểu dáng công nghiệp được coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu giữa chúng có ít nhất một đặc điểm tạo dáng dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và có thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp đó với nhau.

Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó.

Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:

Kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật SHTT;

Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật SHTT công bố dưới dạng báo cáo khoa học;

Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật SHTT trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức.

Có tính sáng tạo:

Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo nếu căn cứ vào các kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên, kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng.

Có khả năng áp dụng công nghiệp:

Kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp.

Các trường hợp không được bảo hộ kiểu dáng công nghiệp:

Điều 64 Luật SHTT quy định các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:

Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phải có, ví dụ: Hình tròn của viên bi, viên bida,…

Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp;

Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm, ví dụ: Hình dạng bên ngoài của các thiết bị bên trong xe máy, ô tô.

Hình thức nhượng quyền thương hiệu là sự liên kết giữa các nhà sản xuất kinh doanh để chuyển giao và nhận chuyển giao những hình thức kinh doanh sản xuất sản phẩm. Bên chuyển giao phải nhượng quyền đầy đủ cả về hình thức kinh doanh lẫn cách quản lý hệ thống. Người nhận nhượng quyền sẽ trả các chi phí theo thỏa thuận. Việc nhượng quyền chỉ có thể diễn ra sau khi đã hoàn tất các thủ tục nhượng quyền thương hiệu theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi cả 02 bên.

Vi phạm bản quyền là sao chép lại hoặc lưu giữ tác phẩm của người khác mà không xin phép, trái phép hoặc không ghi rõ nguồn và tên tác giả chính thức, thậm chí là có thể công bố thêm hay gây hiểu lầm là các công trình đó là của mình sáng tạo ra (đạo văn, đạo nhạc). Đây được xem là vi phạm quyền tác giả sở hữu trí tuệ.

CÁC DẠNG VI PHẠM BẢN QUYỀN

          * Vi phạm về bản quyền một tác phẩm;

          * Sao chép nguyên văn một phần hay toàn bộ tác phẩm đã có từ trước nhưng không có giấy cho phép của người hay giới có bản quyền;

          * Lưu truyền trái phép một phần hay toàn bộ tác phẩm không thuộc về quyền tác giả của mình;

          * Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng toàn bộ ý tưởng chi tiết cũng như thứ tự trình bày của một tác phẩm bị sao chép. Dạng vi phạm này khó phát hiện hơn nhưng vẫn có thể cho là một dạng vi phạm bản quyền nếu như có bằng chứng là “bản sao” bắt chước theo nguyên mẫu. Có thể thấy thí dụ ở những luận án cao học không ghi rõ nguồn và tác giả chính;

          * Bản văn không bị sao chép nguyên văn nhưng bị thông dịch lại các ý tưởng sáng tạo (thành ngôn ngữ khác hay thành các dạng khác);

          * Vi phạm bản quyền của một sáng chế :

–  Sử dụng lại ý tưởng đã được công bố là sáng chế và bằng sáng chế nguyên thủy vẫn còn đang trong vòng hiệu lực của luật pháp. Ở đây cần lưu ý, một bằng sáng chế tại một quốc gia hay địa phương này, sẽ khó có thể dùng để chứng minh rằng: một ứng dụng nào đó (dựa trên sáng chế đó) tại một quốc gia khác là vi phạm bản quyền, trừ khi bằng sáng chế đó có sự công nhận của quốc tế.

–  Mô phỏng lại, hay viết lại (bằng một ngôn ngữ khác hay cách viết khác) miêu tả của một ý kiến sáng tạo đã được công nhận là một sáng chế còn trong thời hạn định nghĩa bởi chủ quyền cũng là một dạng vi phạm bản quyền. Dạng này tương đối khó phát hiện nhưng những dấu tích về cấu trúc ý tưởng hay phương cách dàn dựng kỹ thuật sẽ có thể là những dấu tích chứng minh rằng một sáng chế đã bị đánh cắp hay không.

          Các dạng vi phạm bản quyền khác có thể bao gồm từ việc sao chép, mô phỏng lại các thương hiệu (trade mark) hay các biểu hiệu (logo) của một tổ chức, cho đến việc sao chép các chi tiết có tính hệ thống mà phải qua một trình tự thời gian dài mới chứng minh được. Những vi phạm này thường rất khó phân định và nhiều lúc phải tốn nhiều thời gian cũng như tài lực để chứng minh trước toà án rằng có hay không có sự vi phạm về bản quyền.

Liên hệ ngay

Đội ngũ Luật sư chuyên về sở hữu trí tuệ từ LNP sẽ giúp bạn giải quyết tất cả mọi vấn đề pháp lý liên quan tới pháp luật sở hữu trí tuệ.